Sản phẩm  
 
 
 
 
 
 
 
 
Sản phẩm mới  
Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Tin tức
Kiến trúc xanh với kiến trúc làng, xã

Công nghiệp hóa và đô thị hoá là một xu thế tất yếu trên thế giới. Tại Việt Nam, hơn 80% người dân vẫn là nông dân. Trong làn sóng đô thị hoá, những nông dân đó trở thành một citizen - cư dân đô thị, đôi khi rất đột ngột! Vì vậy, vấn đề quan trọng ở Việt Nam là tổ chức đô thị hoá như thế nào và ở mức độ nào là hợp lý, để cho các vùng nông thôn truyền thống được phát triển có định hướng, hài hoà mà không bị tình trạng “cưỡng bức đô thị hoá”!


  Khi chuyển từ xã thành phường, từ làng lên phố, mối quan hệ cộng đồng truyền thống làm nên bản sắc làng xã cũng dần trở nên phai nhạt. Không thiếu các trường hợp họ hàng kiện cáo, láng giềng mâu thuẫn, anh em cha con từ mặt vì tấc đất bây giờ còn hơn cả tấc vàng. Không gian truyền thống của làng bị phá vỡ, cổng làng nếu còn thì chìm ngập trong nhà cao thấp lô xô, không gian di tích, di sản như đình chùa bị xâm hại lấn chiếm, nhà truyền thống thay bằng nhà chia lô mái củ hành...

 Các hình thức đô thị hoá làng quê
Bản chất đô thị hoá là gì? Có nhiều cách định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng bản chất của đô thị hoá (Urbanization) là một quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Cơ sở đó dựa trên sự dịch chuyển dân số nông nghiệp sang phi nông nghiệp, với những chỉ số đặc trưng: tỷ số dân số đô thị tăng lên trong khi tỷ lệ dân số nông thôn giảm đi, sự mở rộng diện tích và không gian của các đô thị đã có và sự xuất hiện các đô thị mới.

Trước hết cần xác định các yếu tố tạo thị đến từ đâu. Các yếu tố tạo thị có thể từ ảnh hưởng đô thị tương tác trực tiếp với làng xã, hoặc do bản thân nội lực trong lòng làng xã truyền thống. Dựa theo tiêu chí đó, có thể chia ra 2 loại chính như sau:
- Các điểm dân cư nông thôn ven đô, ven đường giao thông, ven các khu công nghiệp: làn sóng đô thị hoá lan vào làng xã do tương tác với đô thị: đô thị cũ phát triển mở rộng, làng nằm cạnh các tuyến giao thông, khu công nghiệp... phát sinh nền sản xuất dịch vụ tạo nếp sống đô thị giữa lòng nông thôn.

- Các làng nghề, làng có điểm du lịch, di sản văn hoá, tín ngưỡng: đô thị hoá do sự chuyển đổi kinh tế sang phi nông nghiệp do chính từ làng xã tạo ra (đô thị hoá tự thân).

Ngoài ra, còn kể đến dạng đô thị hoá làng xã nông thôn do Nhà nước chỉ đạo và định hướng, dựa trên sự tương quan với toàn vùng.
Trong các dạng làng đó, dạng (1) là các làng truyền thống lâu đời, chứa trong mình
bản sắc của một lối sống cộng đồng cư dân nông nghiệp truyền thống đặc trưng của dân tộc, của địa phương qua các tiến trình của lịch sử. Trong quá trình đô thị hoá, dù tự thân hay tương tác, các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, lối sống của người nông dân cũng biến đổi một cách sâu sắc, làm thay đổi cấu trúc cơ bản của làng, biểu hiện qua sự thay đổi bộ mặt kiến trúc, cảnh quan. Sự xâm nhập lối sống đô thị vào nông thôn xảy ra mạnh mẽ và đồng thời diễn ra sự hội nhập của dân cư nông thôn vào lối sống đô thị.

Phải chăng văn hóa làng xã đang bị mất dần?

Bản sắc của một lối sống cộng đồng cư dân nông nghiệp truyền thống được biểu hiện qua làng xã, nơi mà quyền lợi của mọi thành viên trong cộng đồng gắn bó chặt chẽ với nhau. Văn hoá làng xã thể hiện trong mỗi gia đình với nề nếp, gia phong đã được chuẩn mực hóa từ lâu đó là sự quan tâm đến mọi người, kính trên nhường dưới. Văn hoá làng cũng được thể hiện bằng cảnh quan thơ mộng của những bờ đê ướt sương, đường làng uốn lượn, cây đa bến nước, tiếng sáo diều dập dìu, kiến trúc cổ kính rêu phong của mái đình trăm tuổi... Thế nhưng, tốc độ phát triển và đô thị hóa càng nhanh thì càng sớm có sự xáo trộn đáng lo ngại diễn ra với những hình ảnh ấy, nề nếp ấy.

Ðô thị hoá “cưỡng bức” theo tương tác bên ngoài, trưng dụng, thu hồi đất đai ồ ạt, trong đó chủ yếu là đất ruộng của nông dân đã làm cho nhiều làng xã bị biến dạng nghiêm trọng về cảnh quan, không gian truyền thống, nhiều người nông dân bị mất tư liệu sản xuất, mất việc làm, dẫn đến các quan hệ xã hội và cả giá trị văn hóa truyền thống bị đảo lộn,mai một.

Người nông dân bị “sốc” vì không kịp thích ứng, chuyển mình với môi trường sống mới. Chưa có sự chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp, cầm trong tay món tiền đền bù, họ thường ít khi biết sử dụng như thế nào cho hiệu quả. Họ có thể xây nhà, những ngôi nhà lô 3, 4 tầng kiểu dáng copy nhà phố thị với các hình thức kiến trúc khó gọi tên, họ mua xe, đánh bài, lô đề... Dần dần, không có nghề nghiệp, “miệng ăn núi lở”, họ trở nên trắng tay và phải dồn về khu vực trung tâm của đô thị làm thuê, bán hàng rong, thậm chí là mại dâm, trộm cắp.
Trong khi ngột ngạt với nếp sống đô thị, để tận hưởng không gian rộng, muốn hít thở bầu không khí trong lành, dân thành phố tìm về quê, thì nhiều người sống ở nông thôn vẫn thích được trở thành người phố thị! “Giàu có nhà quê không bằng ngồi lê Kẻ Chợ”, thực sự một số điều kiện về y tế, giáo dục, tiện nghi sống, xu hướng giải trí của đô thị là mơ ước với nông thôn.

Như vậy cũng có nghĩa là: nếu làng xã cũng có nước sạch, nước máy như người thành thị, cũng có hệ thống vệ sinh tự hoại, có siêu thị ngay trong làng, có hệ thống tiêu thoát nước mưa, nước thải, giao thông công cộng thuận tiện để người dân có thể đi xe bus ở bến đầu làng lên thành phố thăm con học Ðại học, có thể đến nhà hát, rạp chiếu phim, hội chợ, trạm y tế đủ tiêu chuẩn... thì họ cũng chẳng mơ ước “phố phường chật hẹp người đông đúc”. Họ vẫn có thể duy trì những quan hệ xóm giềng thân thiết, vẫn rủ nhau đi hội làng bên, buổi tối trải chiếu
giữa sân uống trà ngắm trăng xem hoa quỳnh nở... Tức là, việc xây dựng một mô hình không gian nông thôn mới, trong đó các yếu tố hiện đại và truyền thống đan xen hài hoà, vừa hiện đại (về tiện nghi, mức sống) nhưng vẫn bảo tồn được các giá trị tinh thần quý báu của văn hoá làng xã, hình thành một môi trường sống bền vững là một điều cần thiết và cần chủ động hoạch định đón đầu .
Công tác này đã được tiến hành một cách bài bản ở các nước phát triển phương Tây từ những thế kỷ trước, khi Cách mạng Công nghiệp làm thay đổi tính chất đô thị cũng như nông thôn.  Mặc dù về tính chất nông thôn khác nhau, nhưng có nhiều điều chúng ta phải học tập. Chẳng hạn như các dự án công nghiệp được đẩy ra xa khu vực nông thôn, các đô thị luôn sầm uất và hiện đại liền kề những vùng nông thôn thuần túy, nông dân vẫn rất hài lòng với cuộc sống của mình và đời sống của họ luôn làm “dân phố” phải ghen tị.

Những công việc đó đòi hỏi phải một sự phối hợp đồng bộ giữa định hướng phát triển kinh tế xã hội, định hướng quy hoạch chung. Không thể vội vàng đốt cháy giai đoạn. Trong đó, việc chuẩn bị cho nông dân về chuyển đổi phương thức sản xuất là cực kỳ quan trọng. Ðể làm được như vậy thì phải có quy hoạch đón đầu sớm và chuẩn mực, dựa trên các nghiên cứu điều tra toàn diện về các mặt xã hội học, kinh tế, kiến trúc... cụ thể trên từng địa bàn làng.

( Bác Trưởng sưu tầm ) 

Các bài viết khác :
>> Cây đa - biểu tượng truyền thống của làng quê Việt Nam
>> Mái đình - nét đẹp trong hồn quê Việt Nam
>> Muôn nẻo đường Kiến Trúc Xanh
>> Thời của kiến trúc xanh và vật liệu thân thiện với môi trường
>> Kiến trúc xanh ở Việt Nam
>> Kiến trúc xanh- hướng tới sự bền vững
>> Kiến trúc xanh- Kiến trúc vì môi trường
>> Xây dựng chương trình phát triển công trình kiến trúc xanh Việt Nam từ kinh nghiệm của thế giới
Tin tức
>>
>>
>>
>>
>>
>>
>>
>>
Liên kết
   
Quảng cáo
 
Công ty tư vấn thiết kế Kiến Trúc Xanh
Địa chỉ : 35b Định Công - Hà Nội
Điện thoại : 0912.620.994 - 0912.620.995 - 0989.357.623 - 0963.018.500
Email : tra_kts@yahoo.com - kientrucxanh888@gmail.com - Website : kientrucxanh.net